Buông xuôi

(Bài viết cuối cùng của giai đoạn ‘Tuyệt Cùng:88-95. Hình như sau đó không viết được gì hoặc chỉ là những bản nháp lưng chừng, cho đến mùa Covid 2020)

Bây giờ là thằng 2; tháng của mưa bão và tăm tối, tháng của rét mướt và buồn tênh. Mưa bão cuối mùa vẫn còn hành hạ thân xác; nhưng hết rồi cái tàn khốc của năm xưa, năm của tận cùng vực thẫm, năm của cuối đáy cơ cực. Lầm lủi trong mưa tuyểt, oằn oai vì giá rét ; rên xiết trong tê dại và lóp ngóp trong ê chề* ….Giờ sắp là năm mới, năm cuối mùa của một đời sắp cũ; thôi nhắm mắt và bỏ qua; cái gì đã qua là cái gì sẽ ôm ấp và sống với, cái gì sắp tới là cái phải chấp nhận và sống cùng! Tuổi 30 và mười năm lang bạt, không xây dựng và đóng góp được gì: thôi buông xuôi và xếp giáp cho xong. Ngày tháng ‘đi cày’đã bắt đầu quen thuộc; máy móc thành ta và ta thành máy móc. Rượu chè thâu đêm hay cuộc vui suốt sáng giờ trở nên xa lạ; cũng có khi nhập cuộc nhưng tự thấy xa lạ và ơ thờ; phải chăng tuổi xốc nổi đã qua và tuổi vào đời đã tới ; dù đó là báo hiệu của tháng ngày tịch liêu! Đàn bà vẫn là nỗi thèm khát; nhưng đó chỉ là nỗi thèm khát dục vọng, đơn thuần và vô nghĩa; như kẻ lữ hành trong sa mạc, như người tù tội giữa đảo hoang! Tình yêu ngày cũ vẫn còn đó quẩn quanh; dù nó lạc loài mộng mị, dù nó mịt mù biển khơi; dãy chết như ảo vọng tuổi trẻ và gục đầu trên thập giá thời gian. Tuổi 30 ta quay lưng lại với ta và trục diện với cuộc đời; sắp xếp cuộc sống của nửa đời còn lại; cất dấu tuổi thơ và chôn vùi kỹ niệm. Ta vươn lên để cứu rỗi chính ta, đạp đổ hôm nay để xây dựng ngày mai và hủy diệt quá khứ để hàn gắn tương lai. Chối bỏ những cuồng nộ ồn ào ngày cũ và hòa với giòng đời bình lặng vô tri. Tết xứ người ta cười reo nhảy múa, Tết quê hương ta chõng cẳng ngủ vùi. Ôi quê hương và đọa đày; con người như con rối giữa trăm ngàn mâu thuẫn; mắc nghẹn giữa chông chênh văn hoá và kẹt cứng giữa khoản cách suy tư, mệt nhoài trong cuộc sống áo cơm và ê chề bên nổi đau nhược tiểu. Nên ta mất ta trong ngày tháng quay cuồng , ta quên em nơi cuối vực đau thương. Bất lực như côn trùng hẹn mọn và vô tình như ma quái không tim, loanh quanh cuộn tròn trong yêu em lầm lỡ, giờ không dường nào ra. Hoá thân làm kẻ tôi bồi và trở về trong áo mũ xênh xang hay kéo lê tháng ngày với sám hối trên vai và thấp nến mù đăng để mong chờ phép lạ. Tuổi 30 và 5 năm trốn chạy; giờ ngồi lại bởi quá mệt kiếp người, giờ xoa tay để bước xuống cuộc đời; trực diện với lẫn quấn áo cơm và xum xe địa vị, với danh lợi phù vân và mong manh vật chất; chối bỏ cái ta với khói trời sương khói, mơ ước hào kiệt và ảo vọng tuổi thơ, giờ hoá thân trâu ngựa và nằm xuống xuôi tay, giờ gỗ đá vô tình và cỏ rác vô tri; xưa đuổi bè bạn và trốn chạy gia đình, cô đơn giữa quán trọ tịch liêu và mờ mịt giữa đám đông nhốn nháo. Ta ra đi với mơ ước lãnh tụ, giờ bơ vơ nơi quán trọ thiên đường. Thượng để đã cho ta khổ đau thân xác, giờ đặt ta nơi luyện ngục tinh thần. Ôi mệt lắm kiếp người và mệt lắm cởi đời; đấu tranh bất lực và gào thét tàn hơi, tình yêu mất dấu và hạnh phúc đi hoang. Phải chăng là oan nghiệt phải trả, phải chăng đó là nghiệp chướng phải đền; tội ác của nửa đời điên loạn, tội ác của nửa đời cuồng si: chống đối tinh thần và nổi loạn tư tưởng; vật chất sân si và dục vọng nhớp nhúa; phản bội tư tưởng và thả nổi xác thân; truyền rao thứ chủ nghĩa vô thần và chống phá những trật tự cố định, tàn khốc như loài vô tâm và ngạo nghể như thiên thần phản chủ**… Rồi đêm về với bóng tối vây quanh; nhặt nhanh được gì của quá khứ để hàn gắn tương lai, bởi quá khứ là cái ta đã mất và tương lai vẫn là cõi mơ hồ. Ngày dài của năm tháng trước mặt, ta làm gì và đóng góp được gì; thất bại trong đấu tranh ý thức và hèn kém trong đấu tranh trực diện;*** còn lại chăng là tháng ngày mê mỏi và giấc ngủ nhục nhằn và ngày dài quay quắt, sắm hối của đời sống đã qua và bơ vơ trước cuộc đời sắp tới, mơ ước mơ hồ về một đỉnh bình yên và tìm kiếm mông lung một vỗ về thân ái, để tìm lại thuở ngày xưa còn bé; tuổi thơ đánh mất và tình cảm mộng mơ, lý tưởng huyền hoặc và mộng ước vá trời, phiêu lãng như mây trời và bồng bềnh như sương khói, chơi vơi giữa giòng đời và nổi trôi trong cuộcsống, đã cuồng điên yêu mê và đã tận cùng đau xót, đã xót xa thân phận và đã chán ngán loài người. Bởi tình yêu ngày cũ không là một trốn chạy và bất hạnh tuổi nhỏ chỉ ở mỗi riêng ta; dù cuộc đời xoay vần và thế nhân cười khóc, ta yên bình trong ốc đảo và ngủ yên trong tháp ngà; khổ đau chỉ là một khắc khỏai tâm linh và tình yêu là trái đắng dịu dàng. Nhưng xót xa hôm nay là nôi đau dân tộc và tình yêu nửa đời là vết hằn phản bội, cho nên ao ước nhưng không mong tìm gặp và mong mỏi nhưng cứ mãi buông xuôi; cho nên mãi còn đây niềm cô đơn chất ngất, cho nên mãi còn đây nổi quanh hiu cuối trời. Rồi tháng 2 và 5 năm mòn mỏi, tháng 2 và mộng ước vỡ tan, ta đầu hàng Thượng Đế và ta xin người buông tha, ta trả lại người xưa chút ân tình chưa xót, ta trả lại em yêu chút kỷ niệm đớn đau; ta tìm vui trong ngày dài lao lực và ta tìm quên trong giấc ngủ muộn màng; ta ru ta bằng chút men ảo giác và ta đốt ta bằng chút khói tàn phai; ta chìm khuất trong hư vô và tan loãng trong đất trời, xin hoá thân làm dã thú ngây ngô và xin hoá thân làm cát bụi mệt nhoài để ‘rồi một ngày tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày…****

Paris tháng 2, 1988.

* Từ thất chí và cùng đường đành chấp nhận 1 chân phụ việc (bán trái cây ngoài đường , khuân vác và giao hàng người già; gặp ngay một mùa Đông khắc nghiệt nhất của nước Pháp ( – 20% C) ; đến 6 tháng phụ tá cây xăng cho một người anh họ và cuối cùng là bốc xếp và đóng hàng trong 1 nhà kho heo hút đến gần 5 năm (87-91) thì với mảnh bằng trên tay nhảy vào văn phòng kế toán xa tít mù khơi với áp lực nặng nề và ganh đua đấu đá trong công việc, cho đến lúc được thêm mảnh bằng +4 thì từ chức vì quá đuối cũng như tự cho 1 cơ hội tiến thân sau này.

** Trước 75, dẫn Tây học hoặc chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp đều phải đọc qua Jean Paul Sartre (La Nausée) và chủ thuyết Hiện sinh ‘salon’ của của ông.

***Vẫn là 1 chủ nghĩa hiện sinh, nhưng đấu tranh hơn trong tư tưởng của nhà văn giải Nobel, Albert Camus. Nhưng vẫn bất lực và hèn nhát trong những dấn thân trực diện (La Peste, La Chute)

**** Cát Bụi (nhạc Trịnh Công Sơn)

Hình chụp nơi lần đầu (làm việc) đúng tê cóng dưới – 20 C., 38 năm trước. Thời đó chưa được tấm bạt để ‘chở nắng mưa’ như ngày hôm nay.

Mảnh Tình Mảnh Đời

Ơn em thơ đại từ trời, theo ta xuống biển vớt đời ta trôi (Từ công Phụng). Cho cô giáo M. và cô giáo V…

Buổi sáng khi hắn đến thì nàng đã ngồi đó, chiếm ngự một khoản không gian bé nhỏ như hình hài của nàng . Một chút phấn hương dịu ngọt làm hắn tỉnh ngủ và dừng chân. Có khi hắn cất tiếng chào bâng quơ, có khi hắn đứng lại (ngoài hành lang) và lặng lẽ ngắm nàng làm việc. Khi thì chăm chú vào một máy điện toán đầy màu xanh đỏ (Ôi điện toán; lại là một ước mơ, một cuồng điên, áo vọng. Cuối cùng thì cũng chỉ là một công nhân khuân vác trong một nhà kho nơi một tỉnh lẽ đìu hiu); khi thì cắm cúi vào một mớ sổ sách ngổn ngang; bờ vai mềm nghiên nghiên và lối cầm bút học trò. Một vài sợi tóc lòa xòa trên vần trắng hơi nhô ra. ‘Chà, thứ trán vồ này thì thông minh và li lợm phải biết’;hắn thầm nghĩ. Ngay cả lối ngồi viết ngộ nghĩnh cũng làm hắn thấy buồn cười; gò từng chữ, nắn từng câu; gặp người trên bàn viết như một cô bé lần đầu tập viết. Nhưng cô bé học trò mà hắn nghĩ giờ đây đã có những thằng to đầu lớn xác hơn hắn gọi bằng cô (giáo), thưa thưa dạ dạ. Và có ngờ đâu bây giờ, mỗi lần nhìn lại nét chữ thân quen đó, hắn lại đau buốt và vỡ tung từng mảnh tâm linh…

Trở lại buổi sáng hôm ấy, nơi văn phòng mà hắn thường đi ngang để xuống nhà kho nơi làm việc, câu chuyên thường xoay quanh những xã giao vô nghĩa, rồi hắn lại lao vào một ngày nhọc nhằn gian nan, và nàng lại trở về với miệt mài cơm áo và gia đình. Thuở ấy hắn yên bình lắm! Thứ yên bình của loài đất đá vô tri: buồn tênh, hiu quạnh và trống vắng. Tất cả cuồng vọng và ước mơ đã xếp lại, những vết thương đời cũng đã bắt đầu khép miệng. Đời sống chỉ là những ngày dài tiếp nối; đọc hành trên một thứ sa mạc cô tịch và hoang vu; đeo nặng trên vai những hệ lụy mệt mỏi của kiếp người. Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người Và chỉ còn lại đâu đó một thứ kên kên đội lớp để đục khoét trên máu xương đồng loại . Hắn buồn cười trên ấu tri nhân sinh và tội nghiệp cho lãnh tụ thất thế . Ít nhất ngày xưa họ cũng còn là một thứ con người, Tả khuynh hay hữu khuynh ; đâu đó vẫn còn là một dân thân trực diện. Hoa bình, đọc lập và tự do cơm áo; ít nhất đó cũng là những đấu tranh cho những lý tưởng cao đẹp, cho nhưng bất công và nghèo đói. Xấu hay đẹp, đúng hay sai, ít nhất đó cũng là những hy vọng hay, ảo tưởng đóng góp cụ thế cho một quê hương đầy biến động, cho một xã hội đầy bất công. Thất bại hay thành công, tù đày hay vong quốc, hình ngục hay lao tù thi những linh mục hay thầy tu cũng đã xứng đáng khoác trên mình chiếc áo mà Thượng Đế đã đặc biệt ân sủng cho họ. Nhưng giờ đây, Ngày đã khước từ họ; hay họ đã chối bỏ Ngài? Ngày đã trùng phạt chúng ta hay chúng ta đã đạp đổ hình tượng của Ngày?! Điều đó hắn cũng không cần tìm một giải đáp. Chỉ biết răng từ những ước mơ và tượng thần sụp đổ ; từ những mịt mùng tìm kiếm hoài công; hắn ngậm ngùi khép kín và trỏ về loài cỏ lác vô tri: trầm ngâm và lạnh lẻo, vô cảm và tịch mich. Cho nên có lúc nàng nói hắn ít cười ít nói và già nua trước tuổi!… Ờ mà hắn già nua và cô độc thật. Nửa đời hệ lụy và một di sản thất bại nhọc nhằn trong mọi chiều hướng và ngao ngán đến tận tâm linh; tất cả bùng nổ và phần nộ chỉ được goi ghém trong vài trang Bút ký viết cho những người ở lại, viết cho anh em nguc tù, viết cho bạn bè mất xác biển Đông; viết như một giải thoát tâm linh, viết như một kêu gào câm nín và viết như một biện chứng cáo lỗi cùng lương tri!!! Ôi ngày đó và ngày đó; ngày mà người đàn bà đó còn đứng bên ngoài cuộc đời hắn, ngày mà hắn chưa chia cùng nàng những ảo vọng và ước mơ, ngày mà những trang giấy (với những tư tưởng cuồng điên của hắn) còn rêu phong ẩm mốc nơi một góc xó nào đó; ngày đó nàng cũng yên bình và nên thơ lắm!!!) Thứ yên bình của loài rong rêu tội nghiệp, dật dờ giữa dòng đời nghiệt ngã và trôi dạt theo nước lũ cuốn quanh…Mơ ước một đời vui chôn theo năm tháng và tiếng hát ru đời gửi lại cùng hư vô… Cây sẽ tàn và sẽ chết nơi đây (góc xó quanh hiu nơi một tỉnh lẽ, chấp chứa 1, 2 gia đình người Châu Á tỵ nạn!!!). Phải chăng đó là tiếng than của ‘Cung Oán’ ngày nay, phải chăng đó là vỡ bùng của ‘sỏi đá buồn tênh’?! Và ở đâu đó hắn chợt tìm thấy, bắt gặp; tiếng buồn trăm năm của một đời con gái, âm thầm che kín sau áo xiêm rộn ràng và mắt môi rực sáng? Và rồi đâu đó; cái ngông cuồng và phấn nộ ngàn kiếp của hắn bỗng vỡ tung theo từng nét chữ cuộn quanh và từng chấm câu trau chuốt… Ờ đâu đó hắn bắt đầu cuối xuống và nắm lấy cuộc đời. Bởi khổ đau và bất hạnh không phải chỉ ở tận nửa vòng trái đất; mà ở mọi nơi mọi lúc, cuối trời xa hoa và tận ngõ địa đàng. Khác biệt chỉ ở hình thức và thái độ, chỉ ở cường điệu và tiếng nói. Đâu đó nơi đây vẫn còn thành kiến và bất công, vẫn còn gông cùm và xiềng xích. Làm sao thế giới này có thể tồn tại được nếu loài người chưa biết tự hủy (cái tôi) để vươn lên; chưa biết dang tay để xoa dịu? Thế giới biến động bởi chính loài người đã chọn lựa chấp nhận biến động đó, nhắm mắt lãng quên và quay lưng dấu mặt. Khổ đau và bất hạnh chỉ là một tai nạn, một tình cờ cho đồng loại, cho chúng ta, chỉ là một sắp xếp tình cờ của đời sống. Kiếp nhân sinh vô nghĩa không thể đối đầu cùng Thương Đế và hư vô; đời sống trăm năm có nghĩa gì để gào thét và dân thân. ‘Ôi một trăm năm như tiếng thở dài, ngày âu lo theo tóc mọc dài, nghe từng giọng nói,có màu tàn phai…’ Và trên những âu lo ngâm ngùi tan phai đó, hắn cũng đã chọn lựa nằm xuống và mục nát, nhưng không phải là thứ mục nát êm đêm mà là thứ mục nát tang thuong của loài ngựa hồng mỏi vớ, gãy gục và lim chết trên đời dài lưu vong, Hoá thân Lý Bạch cùng càn khôn túy lúy và mơ làm Trang Tử ngủ vùi suốt trăm năm. Và nếu không có một ngày nào đó ; tiếng hát của một loài nhân ngư huyền hoặc lôi hắn trở về từ hư vô; vỗ về của từng lời nói ấm êm; đã phá vỡ tùng mảnh mặt trời đen trong hắn, và những giọt nước mắt buồn của một loài sơn nữ cô liêu bỗng một lần thành bão lũ, thành cuồn phong, thành sấm sét, tiêu hủy và đập nát từng tế bào vô tri giác, soi mòn và đốt cháy từng giá buốt tìm khan, để rồi một ngày như mọi ngày; từng chiều buồn không gào than hấp hối, và một ngày như mọi ngày; giữa mịt mùng cô quạnh; bóng hắn thôi đổ dài giữa giòng đời buồn tẽ mênh mông… (nhưng đó là chuyện sau này.)

‘Tu vas bien (Khỏe không)’ , nàng hỏi

‘Oui, ça va (Ờ, khỏe)’

‘Gia đình vẫn thường’

Ờ…

Mẹ khỏe không?

‘…’

Tiếng mẹ buông nhẹ như một nốt nhạc trầm buồn của Cung Tiến! Hắn đảo lộn và chơi với, ngơ ngẩn và nghẹn lời! Người đàn bà không quen không biết, hỏi về gia đình và mẹ hắn như đã thân quen từ bao đời! Có bao nhiêu người đàn bà trong đời hắn đã hỏi về mẹ hắn như nàng? Từ tốn, nhẹ nhàng và êm ái. Hình như người mẹ và gia đình là điều cao quý và thiên liêng nhất trong cuộc đời nàng. Hình như đó là tâm tư, là ý nghĩa trọn vẹn đời sống đổi với nàng. Cho nên, câu hỏi không mang một tính chất xã giao và ước lệ; nó hàm chứa một vỗ về, săn đón và một yêu thương ngút ngàn.

.. Ở đâu đó, hình tượng người mẹ được thắp sáng trong hắn, và gia đình (cái gia đình mà hắn trốn chạy từ bao tháng ngày qua), bỗng trở nên thân quen và gần gũi, trầm ấm và thân thương. Câu hỏi lôi hắn về một quả khứ đầy phong ba và biển động, về một thời thơ ấu mit mùng và những ngày rong rêu thả nổi. Tuổi 12 nổi loạn và bùng nổ , tuổi 12 bỏ trường lớp* và khăn gói đi hoang. Tuổi 12 tập tành ‘áo tiểu thư’ và vò vẽ tiếng đàn ca. Tuổi 12 với ‘Phượng yêu’ và mối tình thơ đầu đời. Tuổi 12 với M.T. ngoan hiền trên một Mâzda lộng lẫy và trận đòn tình ái đầu đời của Th.,dành cho một cậu bé gầy ốm và khờ khạo , chỉ biết ngớ ngẩn yêu đương tuổi học trò.

Nhưng cuối cùng rồi hắn và Th. cũng trở thành đôi bạn chí thân. Tuổi 12 biết gì mà yêu thương hơn giận; tuổi 12 biết gì mà thù hận chém giết… Xúc cảm chỉ đến từ giọng ca ngọng nghịu của một cô bé học trò lớp 6…’Yêu người như lá đổ chiều Đông, như mày hồng chưa tím, như con giun khóc đêm trường, làm sao nói được tinh yêu’. Ôi Phượng yêu và cuối cùng của một niên khóa. Hắn yêu mơ MT. vì những ngày chia xa sắp đến hay hắn xúc cảm bởi những ngọt ngào mê đắm của tình ca họ Phạm?… ‘Yêu người yêu Phượng yêu hoa đầu mùa, yêu màu rực rỡ, yêu em mù lòa, yêu bằng tiếng nói con tim. Yêu người yêu cả con tim rụt rè , yêu bằng gió núi qua khe gặp ghềnh, yêu bằng tiếng hát yêu tinh..’ Tình yêu có thể cuồng điên và tang tóc đến thế sao? Có thể mù lòa và điên dại đến thế sao? Yêu người xong chết được ngày mai!!! Trời ơi, tử sinh ly biệt đã quay cuồng trong hắn từ ngày xưa, đã cuốn hút hắn vào những suy từ tuổi nhỏ; những ray rứt thân phận và những biến động nhân sinh;đã khơi mầm những biến dạng tâm tư của một thuở học trò, lạc loài và khờ khạo . Từ những lôi cuốn của Trần Đại và mơ ước của Bồn lừa; tuổi 12 mê đắm trong văn chương Duyên Anh và chìm sâu vào tình ca họ Phạm… Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru những câu xa vời. Tiếng nước tôi, bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi… Quê hương và tình ca, tang thương và ngậm khúc; tuổi 12 trưởng thành trong ý thức về một quê hương biển động qua giọng hát cao vứt của một tiếng hát vượt thời gian; làm vỡ vụn từng tế bào và buốt ngọn từng mạch máu. Quê hương ta đó, văn chương ta đó, âm nhạc ta đó; cuồn cuộn bao la; ngút ngàn và mê đắm, đáng ngạo nghễ và hanh diện, đáng gin giữ và nâng niu; cho nên tuổi 12 lạc loài bỗng tìm được dấu tích tuổi thơ và chính mình, đã tìm thấy nhịp khúc giữa thi ca và âm nhạc; giữa bản thể và dấu yêu về một quê hương qua ngôn từ của ‘bốn ngàn năm ròng rã buồn vui…

‘Nghĩ gì mà thừ người ra thế?

Nghĩ vẫn vơ.

Thôi đừng nghĩ vớ vẫn nữa, đi làm đi.

Hắn mím cười và quay bước..Mẹ, vớ vẩn, đi làm, đi về… và còn nữa; một trăm tiếng nói dễ thương, một ngàn chấm câu ve vuốt… Hình như hắn yêu tiếng nói của nàng trước khi yêu nàng. Hình như đâu đó tâm hồn hắn đã mở rộng và trải ra, đã vui theo từng tiếng cười thủy tinh trong trẻo, đã cuộn theo từng bước chân chim nhỏ và đã bùng thơ ca theo từng mắt môi rực sáng. Đi làm và đi về! Sau này hắn đã bao lần nghe lại những mềm mại quấn quanh đó trên từng cung bậc khác nhau: hờn giận, yêu thương, oán trách và vỗ về săn đón. Và đã bao lần hắn chịu quay bước và đã bao lần hắn chịu bỏ đi ?! Hay Vĩnh viễn một đời hắn chỉ muốn đứng lại, để làm mây che đủ cuộc tình sầu và hoá thân cuồng sĩ chết vùi trong mắt mỹ nữ những chiều say; đổ thi ca vào túi càn khôn và vẽ yêu thương trên giòng tóc rối, để được một đời ca ngợi và ấp ủ một mặt trời đêm của nửa đời hoang phế….Ôi tình yêu và định lý toán học, có ai cắt nghĩa được gì đâu. Điên rồ như Hoàng Chương , mộng ảo như Mạc Tử hay bay bỗng như Thiên thư?! Sau này và sau này, dù hắn đã có được con mèo buồn trên tay , nhưng bao giờ hắn mới được ôm trọn một vòng tay? Bao giờ mới là mây che, bao giờ mới là nắng ấm hay tất cả chỉ là tạm bợ, là giắc mơ qua? Từ Thức đã trở về trần gian rồi đó, nhưng nhìn quanh quất lạc loài như trẻ lên năm, nhưng nhìn quanh quất buồn tênh như tiếng thở dài. Bởi cuộc đời nàng đã không thuộc về hắn. Một lần đã bước sang ngang và những hệ lụy chồng chất không thế cắt đứt, quăng ngang. Gia đình, thành kiến, trách nhiệm , tất cả đã buộc chặt nàng vào khu xóm nhỏ hoang sơ này. ‘Cây sẽ tàn và sẽ chết nơi đây’. Đó là giòng chữ từ biệt cuối cùng nàng viết cho hắn! Cho dù hắn đã đạp đổ tất cả để tìm lại chốn xưa, để mơ ước người xưa; nhưng người xưa đâu rồi, nhưng đường cũ còn ai. Cuối cùng chỉ còn lại vết thương buồn vẫn từng đêm nhỏ máu và nỗi kiêu hãnh lạc loài của kẻ chiến bại mất dấu tình xa. Còn đâu nữa trái tim cuồng si mê đắm và tiếng đàn trầm ve vuốt nàng trong đêm. Tắt cả rồi sẽ chôn vùi dưới bụi thời gian và một lần, thêm một lần nữa; hắn lại hoá thân cuồng sĩ; ngủ vùi dưới phôi pha cô độc, ngạo nghễ vẽ tang thương thành khói sầu và tiếng thơ ai oán, buộc đời hắn vào một yêu mơ điên cuồng và tuyệt lối, để rồi chọn lựa cuối cùng bằng cách tự hủy và buông xui; ra đi và bỏ lại tất cả (nhà trọ và việc làm), như một giải thoát cho nàng và cũng là một đòn thù vào chính bản thân và trái tim mệt nhoài mê đắm của hắn…!*

Hắn bước vào phòng thay đồ và chuẩn bị cho một ngày gian nan trước mặt. Một thoáng chua xót chạy dài trên môi! Tuổi 30 rồi còn gì, năm năm rồi còn gì, đã làm được gì đâu, đã đóng góp được gì đâu. Quê hương biến động vẫn còn đó tang thương, vẫn ngậm ngùi nghèo đói. Nhìn lại đời mình đã bắt đầu rêu phong. Ước mơ mịt mờ về một ân cần săn sóc, một vỗ về yêu thương và một mái ấm phù vân nơi quán trọ thiên đàng; để cuối xuống những vết thương khô và hàn gắn phong ba, và thở khỏi trời mênh mông những chiều say lữ thứ, để tạm quên; dù chỉ một giây, một khắc; những đau buốt của một loài ngựa hoang gãy vó… Và rồi có những chiều buồn lang thang trôi dạt về xóm Neuilly*, bạn bè khuyên hắn thôi xếp giáp ngừng đi, và H.* cũng bảo hắn hãy kiếm một chỗ mà nương thân, chờ đợi gì nữa ‘những cô gái thời nay ấy! ‘. Hắn mỉm cười và tiếp tục rót rượu vào ly. ‘Mỗi người một cảnh làm sao cha hiểu được’ Ngày ra đi đã buông lời hẹn ước ; còn hay mất cũng phải một lần đổi diện giải bày nhau. Buông xuôi như vậy hoá ra không xứng đáng vuốt mặt làm người.* Nhưng có ngờ đâu, sự cổ chấp và cương cường của hắn đã tạo ra bi kịch cho chính cuộc đời hắn. Một người tình bên kia đại dương sẽ ngàn đời xa cách, dù là trong tâm tưởng sau này, và một người tình nơi đây sẽ chỉ là sương khói và mơ ước hư không giữa giòng đời nghiệt ngã.

Và rồi như thế hắn vẫn tiếp tục mổi ngày; hành trình cô liêu qua những ga chiều ẩm mốc,*3 tiếng dài xuôi ngược để quay về căn gác nhỏ; quanh hiu và trống vắng; nằm thở dốc lừ đừ câm nín, tư tưởng cuồng điên trong vòng quanh ảo vọng. Một ngày cho xong cho qua hết đi; để ta trở về ta của ngày xưa tuổi nhỏ; để ta tìm lại ta của da vàng máu đỏ; chén rượu rót tràn những đêm say nhẹ nhàng và tiếng hát K. Ly ru đêm dài phù ảo. Ừ lâu lắm rồi không nhìn thấy và nghe lại giọng ca ma quái đó dưới sân khấu đèn màu hay giữa quãng trường thấp đuốc. Nữ hoàng chân đất và tuổi trẻ du ca. Cái gì nơi người ca sĩ đó đã thấp lửa và lôi kéo cả thế hệ tuổi trẻ đàn anh của hắn? Cái gì trong máu huyết của người nghệ sĩ tài hoa đã tạo ra những tình ca âm i; những trói trăn đau buốt trên những khăn tang, trên những đổ nát hoang tàn và những phẩn nộ cuồng điên da thịt. Đôi khi hắn tự hỏi, nếu không có những N. Du, Bá Quát … hay Huy Cận, Thế Lữ thì thơ ca dân tộc có nồng nàn mê đấm như ngày hôm nay. Và nếu không có Áo lụa Hà Đông, Đường Tình Ta Đi thì thế hệ của hắn lấy gì để vò vẽ yêu thương; nếu không có nhà cháy từng hàng và mộ bia đều như nấm thì tuổi trẻ của hắn lấy gì để hình dung được khổ đau và tang tóc của quê hương, lấy gì để ru những xác chết da vàng, ngủ tuổi 20 như anh em, bạn bè hắn? Và lấy gì để áp ủ và hoài niệm khi từng người tình bỏ hắn ra đi như những giòng sông nhỏ và hay có những đêm đọc hành lê gót, chợt nghe tiếng buồn rơi đều và nhìn xuống bóng mình để chợt cảm nhận những mục nát rêu phong của nữa đời cô quạnh !!!

Savigny le Temple 1987-1988*

1/ Bỏ chương trình Pháp tự nhảy qua chương trình Việt (Lớp 6, Để thất)

2/ Congé Formation (Leave with pay) 6 tháng, sau đó đổi nhà thuê, nghĩ việc và xin một chân kế toán nhỏ ở một tỉnh lẽ cũng ngày 3 tiếng đi về.

3 /Neully Plaisance, vùng 94, ngoại ô Đông bắc Paris, nơi có khoảng 10 gia đình Việt tỵ nạn, một trong số những gia đình mua được Nhà (sân vườn) đầu tiền. (1980-1985). Tụ điểm đầu tiên để họp mặt vui chơi của những tâm hồn bơ vơ lạc lỏng những ngày lễ lọc hoặc cuối tuần.

4/ Anh rễ họ, bà con bạn dì, nhà dì là nơi hắn tá tức gần 5 năm tại Việt nam , sau khi bỏ nhà ra đi.

5/ 7 năm xa cách và chờ đợi, đôi bên (ở 2 bên bờ Đại dương) đều có những thay đổi về suy nghĩ và tình cảm, nhưng không ai đủ can đảm viết ra, cứ ‘thà người phụ ta chứ ta không phụ người’, cuối cùng chỉ là một bi kịch!!!

6/ Thời đó (1895-1995) chưa có những chuyến xe tóc hành. Xe lửa vùng ngoại ô xa thì sau giờ cao điểm phải 1 tiếng, 1 tiếng 30 phút 1 chuyến. Xe cà rịch cà tang gần 1 tiếng mới đến ga chánh, rồi phải bắt métro (Subway) mới về đến nhà . Tha hồ ngủ hoặc học hành viết lách trên xe lúc đó.

7/ Việc làm văn phòng nhưng giờ giấc thì khoản 10 tiếng ngày, và 3 tiếng đi về; lại thêm áp lực và đấu đá không ngừng với sếp! Lương cao thì thuế nhiều, làm được hơn 2 năm, chịu không nổi rồi lại khăn gói ra đi (Bây giờ gọi là Burn out).

8/ Phần lớn những bài viết thời điểm này là trên những chuyến xe xinh xịch này. Savigny le Temple là 1 tỉnh lẽ vùng 95, miền Nam Paris, được đâu khoản 3, 5 gia đình A châu tỵ nạn lúc đó.

Lạc Lỏng

We are a lost génération (E. Hemingway)

Ở đây, có núi sương mù, có người như tượng, đứng thu bóng chiều. Ở đây thôi ở đây đành, sáng ra núi ngóng, chiều mênh mông về (Thơ Trịnh Cung, Lê Uyên P. phổ nhạc).. Lại một ngày mùa đông, năm 1984, một năm sau khi chân ướt chân ráo đến Pháp; theo người anh họ xuống Montbard (vùng đông bắc nước Pháp) thăm một người chị họ lấy chồng định cư nơi đó. Buổi sáng ra đứng ngoài sân nhà hút thuõc, sương mù dày đặc, ngó về xa xa mờ mờ một dãy núi, chẳng biết núi nào, ở đâu. Lòng chùng xuống một nỗi nhớ về quê hương bỏ lại và tiếng hát đứt nghẹn của Uyên trong ‘Đêm chôn dầu vượt biển.’ Lần đầu tiên mới thấm thía cái nỗi buồn xa xứ. Qua rồi những ngày đầu hội ngô mừng tủi cùng họ hàng bà con, qua rồi những tháng đầu rượu thịt ê hề để bù đắp những thiếu thốn tận cùng của bao cấp và tăm tối. Cuộc sống xứ người không dừng lại để chờ đợi, để nghe ngóng những lạc loài, thương nhớ của tuổi trẻ bỏ cuộc, trốn chạy hay lưu đày một kiếp! Chợt nhớ lời dặn đó của bậc đàn anh, những người đã biết Paris của thập niên niên 50, 60 (tu nghiệp hoặc du học) ‘Không như phim ảnh đâu nha’ Cày lên sỏi đá đó! Buồn lắm, lạnh lắm!!! Và nhất là lời của bà(nội), một người ngày xưa đã từng bay Sài Gòn – Hồng Kông – Paris như đi chợ (mua bán gì lớn lao lắm tôi cũng không biết) ‘Mấy đứa bây bất tài vô tướng , qua bên đó chỉ có nước cặp đất ăn!’…Mà thật sự, cặp đất thì không nhưng bánh mi trứng gà thì đều đều. Mì gói thì chưa thịnh hành như bây giờ. Có 1 chỗ độc quyền, nếu tôi không lầm là tiệm Thanh Bình, đâu gần quận 6 Paris ; một loại cửa hàng Quốc Doanh xuất khẩu. Mà đã xuất khẩu thì mậu dịch viên cũng phải là DÂN (cán bộ) cao cấp, không phải gặp ai cũng tiếp cũng cười, lớ ngớ như bọn tôi họ chẳng thèm hỏi thèm chào, hỏi thăm thì họ cũng chẳng ngó chẳng ngàng, mua không mua cũng không cần!!! Thường thì lúc đó người Việt sau 75 mua hàng ở những tiệm bán lẽ nhỏ, những tiệm này lấy sĩ ở Thanh Bình hoặc Tang Frères, một siêu thị khá lớn của người Hoa trong phố Tàu (quận 13) Paris.

Rồi những ngày lang thang để xin việc! Bập bẹ được chút tiếng xứ người, đâm vào những bước tường của bằng cặp và kinh nghiệm! Cu ly cũng không nỗi, thầy ký cũng không xong, thậm chí muốn đăng lính cũng không đủ chiều cao và sức khỏe!!! Từ buồn nản, thất vọng đến gần như lo sợ và tuyệt vọng. Mỗi ngày đối diện với bất lực của bản thân và hổ thấm tư tưởng. Và gãy đổ đã đến với cuộc tình bỏ lại vì cùng cực và bế tác của đôi bên và mâu thuẫn suy nghĩ giữa hai bờ đại dương đã đẩy chúng tôi vào hủy diệt chia xa. Cho cùng thì cũng chẳng lỗi tại ai, như người nhạc sĩ họ Phạm đã viết ‘ Ân tình trong lúc đôi mươi, bao giờ cũng dễ mau phai!… Nhưng chia tay là một lẽ, quên nhau thì lại không dễ, cho dù đôi bên đã có nhiều lần cố hàn gắng sau này, nhưng ngọn lửa đam mê đã rụi tàn!!! Có lẽ là cuộc sống và hoàn cảnh xã hội tây phương ngày nay không còn là môi trường của lãng mạn, yêu mơ cho những con người vượt thoát và gẫy đổ như chúng tôi? Không có tâm tình để lang mang như Xuân Điệu, thơ thẩn như Nguyễn Bính hay ‘tám phố’ như Nguyễn Sa! Nhưng rồi cuộc đời là như thế, cũng như đại đã số thế hệ lưu vong đầu tiên; khi đã vào chân tường thì chỉ còn nước xong tới, không có thời gian để trách ai phải quấy. Mỗi sáng tiếng đồng hồ báo thức là nỗi ám ảnh kính hoàng!!! Nhưng phải bò dậy, nhưng phải bon chen, xe lửa , xe bus, tầu hầm hay cuốc bộ, tuỳ lúc tuỳ nơi, tuỳ ngày tuỳ tháng. Như những kẻ chơi vơi ngoài biển khơi, bám víu vào tất cả những gì nắm bắt được và gõ của tất cả những cơ quan hội đoàn chuyên giúp đỡ người tị nạn. Dù sao thì nước Pháp vẫn là một cường quốc về nhân văn và kinh tế, cho dù sau 2 năm nắm quyền cánh tả đẩy con số thất nghiệp lên trên 10% (1981-1983); nhưng vẫn còn 1 số trường dạy nghề không công và những đại học mở, của bộ giáo dục, và gần như miễn phí cho mọi tầng lớp. Đó là những mảnh ván để chúng tôi bám vào, chòi đạp và vươn lên sau này; và dĩ nhiên là không thế tránh khỏi kiẻp nạn của những ngành nghề nặng nhọc (bán xăng, khuân vác, tạp dịch) trên đường tiến thân…Và rồi cũng như đại đa số thế hệ lưu vong đầu tiên, thời gian trôi qua rất vô tình và rất nhanh, quanh đi quẩn lại thì đời đã xanh rêu… Có những người thành đạt ,có những người nung nấu hoài bảo, có những người xuôi tay nhắm mắt. Nhưng đâu đó mẫu số chung trong mỗi con người vẫn là một hoài niệm, buồn thương, tiếc nuối hay đón đau về một quê hương bỏ lại bên kia đại duong. Tôi cũng ra khỏi ngoại lệ đó. Và rồi với cuộc cách mạng công nghệ 2.0, 3.0 gì đó; bất chợt khoảng cách đại duong không còn thênh thang thang vời vợi . Có những tiếng nói, những hình ảnh thân quen đã hiện ra trên màn ảnh , qua điện đàm và đã làm sống lại, bùng lên những nhớ nhung chôn vùi khép kín hàng thập niên qua, trở thành một động lực thôi thức những Từ Thức, Lưu Nguyễn hay Kinh Kha tập tễnh trở về. Rồi có những dấu yêu đã tìm lại được và cũng có những thất vọng và chán ngán ê chề sau đó. Thôi thì mỗi người tự chọn một niềm vui, hay buồn của họ; quê hương đã tìm lại và nhìn thấy, không còn nữa những ảo ảnh hay ảo giác mơ hồ của những đêm dài thức trắng hoặc say mèm với bạn bè để vọng mơ một kiếp về một quê hương mất dấu như trước đây.

Còn đổi với riêng tôi, chỉ là ước mơ được đi khắp mọi miền đất nước, nhìn thấy một lần Trường Sơn u ám, hay bước lên Cổ Thành nhìn về bên kia bờ Thạch Hãn, nơi khởi điểm chấm hết cho một bi kịch! Rồi đi ngang bờ Hiền Lương (cây cầu đã khóa, giờ chỉ là di tích) qua Quảng Bình, biển Nhật Lệ và sống Gianh, lại một dòng sông chia cắt; một làn được thầy đèo Ngang, và ‘một mảnh tình riêng ta với ta’. Được thấy Hà nội và của Ô quan cuối cùng, xe chạy dọc đê Yên Phụ (giờ đã không còn nữa) để về Nội Bài bay trở vào Nam, và cũng không quên lướt nhanh qua Thê Húc, Hồ Tây, Trấn Quốc cũng như len lõi qua 24 phố phường tăm tối . Sau đó là Sài Gòn và nhiều chuyến đi về miền Tây Nam Bộ, gốc rễ cũng như nơi đã sống qua những ngày tuổi thơ cũng như vật vờ trong nhiều năm bao cấp sau đó. Rồi một lần khác lại cùng bạn bè ghé Hội An, Non nước, Mỹ Khê; rồi lại vượt (hầm) đèo Hải Vân, trở ra Đông Hà, lênh đênh qua cửa Việt, cửa Tùng; cầu nguyện ở La Vang, ghé lên Khe Sanh, Khe gió và dừng lại ở đầu đường 9 Nam Lào, thấp một nén nhang cho những người anh, người chú đã bỏ cuộc một lần tại đây. Rồi trở về Mỹ Chánh (cây cầu giờ cũng thành di tích, và con đường kinh hoàng giờ đã thành đại lộ thênh thang); rồi lại trở ra Cố đô, bước chân qua những ‘nền cũ lâu đài bóng tịch dương’ để say ngắt ngưỡng trên Phá Tam Giang khi nhìn về hướng biển Thuận An; nhớ về một Dunkerque của miền Nam Việt Nam 40 năm trước. Nhưng lịch sử đã không lập lại kỳ tích của Hải quân Hoàng gia Anh quốc ngày xưa trong thế chiến thứ 2!!! Âu cũng là vận nước đã đến ngày tàn ! Bốn mươi năm trôi qua, bốn mươi năm sau ngày ‘Tháng 3 gãy súng’;* biển Đông đã xoá nhòa những tàn tích của bi thương và tủi hận, chỉ còn lại những phố thênh thang , những cao ốc, resorts, hàng quán. Với những thế hệ tuổi trẻ hậu chiến; vô tư, ngu ngơ và choáng ngợp trong bia rượu mịt mùng. Và thế hệ bại vong đã được thay thế; một cách bình thản và vô tình; bằng thế hệ của 1,2,3 vô vô vô…! Ngẫm nghĩ mãi tôi cũng không hiểu được tại sao giữa tiệc tùng đình đám cả bàn lại ‘rống lên’ như vây?! Rồi nhà ai nẩy về ; một vài hôm lại đám hỏi đám rước ; lại ào ào vô vô và lại tùng xèng hò hét. Cái vụ hát hò này khiến tỏi tự nghĩ nếu một ngày hết thời, ‘lá tàn về cội’ thì mở một tiệm ‘bán hoa’ chắc có thể kiếm chác được qua ngày. Bởi không còn biên giới ngày nay giữa phòng trà và quán nhậu, giữa âm nhạc và âm thanh, giữa ca sĩ và gào sĩ; và điều lạ lùng nhất đối với tôi là mỗi khi lên sân khấu thì mỗi người đều tự thưởng (bây giờ gọi là tự sướng!) hay được thưởng năm ba bó hoa, và trong đó không quên kèm theo 5, 10 đô la nếu là phái đẹp. Rồi tôi tự hỏi nếu Phương hay Trịnh có sống lại thì sáng tác được gì cho thế hệ 1,2,3 vô vô, và tâm tình được gì với những cô cậu xuất thân từ ‘Học viện Hàng không’: rất hãnh diện được ăn hàng ở không; rãnh rỗi surf dài dài trên mạng (lướt Web!) và cuồng điên trần trụi lên đồng vì đội tuyển quốc gia đã ‘đoạt mini cúp’ trong giải bóng đá của một ‘vùng miền’ lục địa!?

Val de Marne (Pháp) 21/01/2022.

* Tổng cộng hơn 15 chuyển đi Nam Trung Bắc từ 2002.

Mùa đông Vitry.

(Tặng D., Tri Tôn- An Giang.)

Bài viết năm ngoái, làm biếng bỏ dấu, sau này gặp lại một bạn già , mắng mình là bất lịch sự . Cho nên hôm nay rảnh rỗi , thêm dấu vào, đăng lại. Hắn muốn đọc thì đọc. Bài viết nầy muốn tặng riêng một cô Bé vừa di dân qua Colorado; mong cô ấy sẽ được nhiều hạnh phúc, và đặc biệt gửi cho một người chị họ, đã không còn nữa. Hình như mình còn thiếu chị ấy một số bài dịch Hồi ký của chị ra tiếng Pháp. Mình sẽ có gắng làm điều đó trong tương lai, khi mình rảnh rỗi hơn nữa..

Vitry sur Seine 12-2014…

Trời mùa đông bên đây buồn ơi là buồn; xách gọi đến nhà bạn hiền chơi, ngày mai hắn đi làm, ngủ ngay ầm ầm , không ngủ nổi! Thức rồi nhưng không dám bật TV, hút điếu thuốc thì sợ hôi nhà, , phải chui ra ngoài bao lơn (balcon), chịu không nói nữa thì rút vào trong bếp; co ro khúm rúm ! 7 giờ sáng rồi mà trời vẫn còn đen kịt, không xe cộ và cũng không một bóng người. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng xe bus tu toe, đổ xuống những ca (làm) dêm, và đón những ca (làm)ngày: lúp xúp, run rẩy trong cai rét đầu muà. Khổ sở như vậy, nhưng sao người ta (từ xa) vẫn bon chen để đến, chen lấn để xin (nhập cư, định cư) vào? Và cũng có những người quyền cao chức trọng, nhà cửa ấm êm lại muốn bỏ cả để được đi xa, đâu đó, thoát khỏi cái xếp hàng cả ngày, chen chúc quanh năm hoặc bãi thị đình công hay hô hào đập phá (thắng cũng đập, thua cũng đập. Đó là tinh thần thể thao ngày nay.!) Nếu bạn có hỏi tôi tại sao thì tôi cũng không thể trả lời…Cùng lắm chỉ có thể vì von như Trịnh (Công Sơn) rằng : Người gian nan mơ ước bình thường, và người vinh quang mơ ước địa đàng; giản dị chỉ thế thôi (Chỉ nhớ lời, không nhớ tên bài hát)

Thế thì còn tôi và các bạn? Đường hôm qua chúng ta đã cùng ngồi-ngồi thời bao cấp, đói rã ruột ở Sài Gòn, chia nhau từng điếu thuốc lá, từng ly cà phê, dĩa cơm thiếu chịu; hay đường hôm nay chúng ta cũng đã đi qua- con đường của tuổi trẻ vượt biển hay tị nạn; không định hướng, không tiền tài, tương lại–chỉ biết uống và uống; uống để quên cái lạnh thẫu xuong cốt và cái buồn nhức nhối của nhớ nhung và ký ức đau buốt về 1 quê hương hương bỏ lại ; cho dù đã tìm lại hôm nay; nhung đó có còn là quê huong đích thật trong ký ức của tuổi trẻ chúng ta không?! Cho nên, bây giờ, hôm nay, lẫn quản giữa hai quê hương tạm bợ ; bọn mình mơ ước gì đấy, chọn lựa gì đây :giữa cái nhốn nháo, bon chen phù phiếm và hỗn loạn của một xã hội đang trở mình sau chiến tranh nghèo đói và một xã hội đã tiến hoá ; nhưng cô động buồn nản vô tính và đang thoái hóa đến cùng cực này??? Hay là lại mượn Trinh mà nói:

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Tôi nhận gió trời mời em giữ lấy
Để mắt em cười, tựa lá bay….

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Cùng với anh em tìm đến mọi người
Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát
Để thấy tiếng (em) cười rộn rã bay…

Nhớ cô bé, tôi nhớ, một nỗi nhớ mang mang, trầm trầm. Mong cô ấy đạt được mơ ước dưới khung trời bình yên mà cô ấy đã chọn lựa…

(Chú thích: Vitry sur Seine là một tỉnh giáp ranh quận 13 (phố Tàu) Paris. Đi xe bus từ quận 13 khoảng 10 trạm là đến. Đa số cư dân là gốc nước ngoài (Bắc phi, Châu phi, và ít hơn nhiều là Châu Á) )

Trên xe bus

(Tặng bà 6, người đã chửi tôi là rãnh rỗi sanh nông nổi)


Lại là cô bé ay. Khuông mặt tròn, da trắng, mắt to. Mái tóc bùm bê gần ngã qua lối à là garçonne; kiểu tóc thịnh thời của thâp niên 60; thời đại của phụ nữ vùng lên; mở đầu bằng Bonjour Tristesse của Sagan , hay A bout để souffle của Godard. Ở đây xin mở ngoặc một chút;, không biết có phải là ngẫu nhiên hay không; nhưng những phong trào cấp tiến hay cách mạng nhân quyền đều bắt đầu từ nước Pháp: Cách mạng 1789, Phụ nữ bình quyền, Tự do luyến ái …

Bây giờ xin trở lại cô gái đó .Cái gì đã làm tôi chú ý nơi cô? Trên xe bus, hàng chục hàng trăm người lên xuống ; thường thì mặt mày méo mó xụi lơ , hoặc trầm tư suy tưởng. Nhất là trong những ngày hỗn mang của nước Pháp vừa qua (đợt khủng bố bắn chết toàn bộ ban biên tập báo Canard enchaîne và bắt giữ con tin ngay tại thủ đô Paris) ; mà nơi tôi về thì đa số , nếu không muốn nói toàn bô là người nước ngoài (nhập cư, định cư) . Cho nên có một chút nặng nê ảm đạm, và mệt mỏi lo âu trên những chuyến xe đi về ! Cô bé không đẹp , nhưng có một cái gì đó tươi mát và trong sáng giữa cái mịt mùng đen tối mà tôi nhìn thấy mỗi ngày.

Đến đây lại xin phép mở ngoặc thêm lần nữa, chắc rằng sẽ có người sẽ xỉ và tôi: Trời ơi, nước nhà đang đại loạn binh biến mà còn ở đó thơ thẩn với gái và hoa!.Không phải vậy dâu các bạn ơi. Bởi vì cô gái dễ thương sáng sủa đó không còn khá năng đi đứng nữa !!! Khi cô lên xe thì nhờ một người qua đường tốt bụng nào đó đưa xe lăn cô lên , và nhất là khi xuống xe; lính quính, chen chút , chật chội trong giờ cao điểm, phải nhờ một ông đen (tiếng gọi người Phi châu tại Pháp) to đùng hay một bác rệp (Arab, tiếng gọi người gốc Bắc phi) cường tráng nào đó để đưa xe lăn của cô xuống…
Trời ơi, mỗi ngày đi về hơn chục trạm xe bus (cô xuống trước tôi một trạm ), không biết còn phải lấy thêm xe điện ngầm hay tramway gi không?! Người đưa đi không có thì còn hiểu, ngay cả người ra trạm đón chờ để đưa về cùng không luôn!!!

…Roi bẵng đi mấy ngày, toi không nhìn thây cô bé nữa Vả lại tôi đi về cũng không có giờ giấc trật tự gì cho lắm. Nhưng mối lân xe ngừng lại trạm cô xuống ,tôi lai liên tưởng đến chiếc xe lăn và đôi mắt tươi sáng lính động . Rồi ký ức đẩy tôi lùi về 4 năm trước đó, vào một đêm mát mẻ, ở môt thành phố thân quen, nhưng xa, xa lắm thủ đô của nước Pháp. Cũng là môt cô gái tàn tật bán vé số, và môt bà lão đẩy xe lăn, đâu khoảng khúc đường Huỳnh thúc Kháng-Hồ Tùng Mậu (Chợ Cũ ngày xưa ) ; đi ngang chỗ chúng tôi đang ngồi nhậu lai rai. Rượu đã ngà ngà, tôî móc 1T (khoảng 5-7 chuc đô la gì đó) để mua trọn phần vé số còn lại, và cho 2 bà cháu về nghĩ ngơi!

Đến bây giờ, thỉnh thoảng thằng bạn nhậu ngồi chung vẫn nhắc lại và chửi tôi ngủ, ông bị lừa rồi ông nội ! Mà đôi khi ngẫm nghĩ lại, thấy mình cũng hơi ngu ngu thật , phải không các bạn:=o)

(Viết tại Vytry sur Seine, 1 tỉnh nhỏ gần quận 13 (phố Tàu) Paris, mùa đông 2015)

Thứ sáu đen

7 giờ sáng, ngày thứ 7, giờ Sài Gòn, một cú điện thoại từ Paris lôi bật hắn dậy trong cơn ngủ mệt nhoài (Hắn xuống phi trường đúng một tuần trước, nên vẫn còn dư âm của chênh lệch giờ giấc. Mùa Thu Paris và nắng ấm Sài Gòn; ồn ào bụi bậm của một thành phố bát nháo và cô động bình thản đôi khi đến chán chường của một thủ đô với nhịp sống nặng nè áp lực; tiêu biểu của những xă hôi văn mình, tiến hoá)

Và điều mà mọi người đang nghi ngại và chờ đợi đă đến! Nhưng tính bất ngờ mức độ thảm khốc đă vượt ngoài suy đoán của mọi người! Không còn là một hành động đơn phương cuồng tín của một vài cá nhân bất túc, nhưng sau lưng nổi chết chập chùng là bóng ma của một tổ chức phi nhân nhưng thâm hiểm và hèn hạ. Thâm hiểm bởi nhân danh tôn giáo để biện minh cho một thánh chiến mị dân và bạo lực, và hèn hạ bởi con người không đối đầu con người trên chiến trường tay đôi mà lại chọn lựa nhà hát, quán ăn để biếu dương quyền lực và giáng trả đòn thù. Và từ đó, chiến tranh và thù hận lại bùng lên , và nguy hại hơn hết là bạo lực và kỳ thị một lần nữa sẽ nhen nhúm trong lo sợ và kinh hoàng của mỗi cá nhân, và từ đó, đúng hay sai, những đao phủ máu lạnh đã thành công trong mục tiêu của họ.

Cho cùng thì chính cơ cấu của một số thế chế tây phuong đă tạo ra những khe hở (failles) dẫn đến thảm họa ngày hôm nay.Từ chính sách thực dân đến chính sách nuôi dân và đồng thời ngu dân, những nhà lãnh đao, một phần vì tham vọng cá nhân một phần vì lơ là lười biếng, đã châm ngòi cho những quả bom nổ chậm này từ nhiều thập niên trước… Hắn có bà bạn phi châu, đến từ xóm Nam Phi (Afrique du Sud). Gia đình khá giả, người công giáo. Đã từng sống và du học bên Anh , bây giờ lấy chồng định cư bên Pháp. Bà cũng chẳng ưa gì cái đạo giáo lạ lùng, lạc hậu và giết người này. Bà thường nói với tôi rằng : người Pháp như cặp vợ chồng hiếm con, nên thích đem thêm con cái về nuôi ; cho ăn, cho học, nhưng lại thích đè đầu, đá đít; thậm chí đôi khi còn trêu ghẹo tôn giáo của bọn trẻ mà quên rằng chính họ đã nói 1- tôn giáo và màu sắc là không nên tranh luận, 2- tự do của mỗi con người ngừng lại nơi tự do của người khác bắt đầu và 3- sự thương hại hãy bắt đầu tự chính bản thân. Cũng như trong một gia đình không áp dụng rõ ràng nghiêm khắc ky cương thì tới khi đổ chuyện ho lại đi than vãn với người chung quanh xóm làng mà quên đi là chính họ phải quét dọn ngay trong sân nhà của họ trước tiên.

Nhưng bây giờ, hôm nay không phải là lúc tranh cải hay bàn bạc trước
đau thương và mất mát cửa hàng trăm gia đình và con người; nhưng thật sự thì họ phải nên nghĩ đến sự quét dọn này lâu rồi, chứ không phải đợi đến bi kịch của tháng một vừa rồi (13 người của ban biên tập báo Charlie Hebdo bị bắn chết ngay tòa sạn làm việc) , và của thứ sáu đen vừa qua…

‘Viết ngày 28/11/2015, tai Saigon… đâu đó trong 1 khách sạn.’

Tóm tắt diễn biến sự kiện ngày 13/11/2015 tại Pháp (Paris và ngoại ô)

Sáu cuộc tấn công trong 33 phút: Dòng thời gian đêm kinh hoàng

Từ 9:20 tối đến 9:53 tối: ba tiếng nổ vang lên xung quanh sân Stade de France, ở Saint-Denis, gần cổng D và H và rue de la Cokerie, trong trận banh giao hữu Pháp-Đức, trước 80.000 khán giả. Một người thiệt mạng cùng với ba kẻ đánh bom liều chết. Tiếp đó là một hai tiếng nổ nhưng trận đấu vẫn tiếp tục. Người chơi và khán giả đều không biết chuyện gì đang xảy ra bên ngoài, bằng chứng là Christophe đã biết chuyện khi anh rời đi, trong khi con trai anh, « lo lắng », gọi điện cho anh. Một tài xế riêng đang chờ kết thúc trận đấu gần sân vận động thì bị « trúng bom vào đùi », chủ nhân của anh ta chứng thực. Anh ta được phẫu thuật trong đêm.

9:25 tối: quay ở Paris ở góc đường Bichat và đường Alibert (quận 10). Mặt đối mặt, quán bar Le Carillon và nhà hàng Le Petit Campuchia là mục tiêu của những kẻ xả súng đến từ một chiếc xe Seat Leon màu đen. Nơi tụ họp rất thường xuyên của giới trẻ Paris và người nước ngoài. Cửa sổ và sân thượng thủng vì đạn, máu vương vãi trên vỉa hè, có mười lăm người chết. Khoảng một trăm vỏ đạn được tìm thấy trên đường. Những người sống sót mô tả những cảnh tượng “không có thực”, những cơ thể “thành từng mảnh”. Một người phụ nữ kể lại: “Thật là siêu thực, mọi người đều ở trên mặt đất, không ai di chuyển. Đối với Marie-Laurence, một cư dân sống trong khu phố từng trải qua vụ tấn công ngày 11 tháng 9 ở New York, ‘thật quá đau buồn và không thể hiểu nổi’ nhưng nhất quyết là không nhường bước « cho sự sợ hãi ».

9:32 tối: rue de la Fontaine-au-Roi (Quận thứ XI), gần Place de la République, năm người đã thiệt mạng gần tiệm bánh pizza, La Casa Nostra, và quán bar À la bonne bière. Hai cô gái trẻ đang ở nhà trọ thanh niên lân cận bị bắn trước mắt Stéphane, một cư dân sáu mươi tuổi đang trở về nhà. « Tôi thấy một chiếc ô tô dừng lại và hai hoặc ba kẻ lao ra mỗi bên và bắn vào hai bên đường bằng vũ khí tự động, » anh nói. Một chiếc Seat Leon màu đen cũng được nhìn thấy tại hiện trường. Stéphane quay cảnh bằng điện thoại di động của mình, nơi chúng ta thấy cảnh sát ập vào nhà hàng để truy đuổi những kẻ tấn công. .

● 9:36 tối: Súng nổ trên đường rue de Charonne (quận XI) tại nhà hàng “La Belle Équipe”. Mười chín người bị giết. Vẫn là chiếc xe Seat Leon màu đen.

● 9:40 tối: đại lộ Voltaire (quận XI), một trong những kẻ đánh bom liều chết đeo đai nổ tự nổ tung tại Comptoir Voltaire. Một người bị thương nặng.

21 giờ 40 Một chiếc Polo đen đến trước nhà hát nhạc kịchBataclan. Nhiều phát súng được bắn ra. Trong khán phòng, nơi diễn ra buổi hòa nhạc rock, một số người đàn ông vũ trang (súngg AK 47, Kalanikoch), không che mặt, vừa nổ súng vừa hô to « Allah Akbar = Thượng Đế vỹ đại », và bắt 1500 khán giả làm con tin. Số người này đã trải qua một cảnh kinh hoàng trong suốt hơnhai tiếng đồng hồ giờ!!! Một nhân chứng kể lại rằng: một trong những kẻ tấn công là một « cỗ máy giết người » đã « tàn sát những người trên mặt đất một cách có phương pháp ». Một người khác mô tả họ: “Một người trông giống như một chàng trai trẻ, râu ba ngày không cạo. Người còn lại cạo trọc đầu, đeo kính nhỏ và đội mũ nồi màu vàng. Anh ấy cũng đang mặc thứ mà tôi nghĩ là áo chống đạn; nhưng đó thật sự là một thất lưng chưa chất nổ dùng để đánh bom tự sát ”.0h20: BRI và RAID (Đội phòng chồng tội phạm và khủng bố) phát động cuộc tấn công vào Bataclan. Hoạt động kết thúc lúc 01 giờ 11. Ít nhất 89 người đã chết. Bốn kẻ tấn công bị giết, ba trong số họ bằng cách kích hoạt đai nổ tự sát của họ .
(Ít được nhắc đến hơn ngày 9 tháng 11 tại New York (vì ít người chết hơn), nhưng vụ thảm sát Paris và không tặc New York là 2 vụ tấn công và khủng bố kinh hoàng nhất đầu thế kỷ 21 tại Âu Mỹ)

LẠ LÙNG VIỆT NAM


Đầu năm kể chút chuyện vui. Dưới đây chỉ là một biếm hoạ về Sài gòn mới; phản ảnh nhận xét, và suy nghĩ riêng tư của người viết. Từ những năm 2000-2010; tập tễnh, ngại ngùng và lúng túng đi tìm lại ‘nước non ngàn dặm ra đi’ và thập niên 2010-2020, muốn làm kẻ ‘xin nhận lại quê hương tuổi thơ’; người viết đã đi xuyên suốt miền Nam (cũ), một phần miệt Bắc và nổi trôi hoặc nằm lì tại Sài gòn trong nhiều ngày tháng; đạp xe và lang thang qua những ‘đường xưa lối cũ, gặp hoặc không gặp nữa những cảnh cũ hoặc người xưa, kẻ còn người mất, quán xá đổi tên… ‘ rồi một ngày chợt cảm nhận rằng đang là Từ Thức lạc lỏng cỏi trần gian, đang đi tìm một quê nhà chỉ còn trong ký ức, hay chỉ tồn tại đâu đó qua những hình ảnh, sách vở và tư liệu xưa…

Paris Mùng 10 Tết Tân Sửu.

Lạ Lùng Việt Nam (Phiếm luận)


Không ai có việc làm nhưng ai cũng đi làm (Chỉ cần ra đường buổi sáng hay buổi chiều , từ 8-10 g và 17-19 g thì bạn sẽ choáng ngợp vì khói, bụi xe và tiếng kèn inh ỏi , và nhất là những lặng lách, chèn ép của xe Bus!!!) Xe Bus do tư nhân quản lý nên các bác tài càng phải chạy nhanh , rước khách nhiều và kiếm tiền nhiều, rủi có tai nạn thì đi tù (go to jail) hoặc cả đời ăn mày, chuyện đó tính sau!!!

Ai cũng đi làm nhưng không ai có tiền ((Đừng nhằm lần Chi (payer) bạc tỷ (des milliards) và xài (depenser) bạc tỷ.)) Những bạn nào mới về chơi, nghe nói chuyện bạc tỷ thì phải hiểu là chi-thu bạc tỷ chứ không phải xài bạc tỷ, cho nên đừng có tủi thân và mặc cảm. Bạn nào lãnh RMI, petite pension retraite là bảy tám trăm eur = 20-25 T tiền VND, là bằng 4- 5 lần lương cán sự, xếp trưởng (Petit et Moyen Fonctionnaire), 10 lần lương cnv (caissiere, OS etc). Hơn nữa họ làm việc 10-12 tiếng một ngày, 6 ngày trong tuần và hầu như 95% không có bảo hiểm y tế và tiền hưu.

Ai cũng đi làm nhưng không ai có tiền (khá lạ lùng vì tôi thấy nước Pháp HIỆN NAY cũng xem xem với Vietnam ở điểm này. Chỉ khác nhau là ở Vietnam thì không khóc, không than và không biểu tình! Không có tiền thì nhăn răng cười trừ, không có tiền trả thì vay mượn xã hội đen (Mafieux), trả không nỗi nữa thì BIẾN (Disparaitre). Có về vùng sâu vùng xa (Dans les villages, au fin fond du pays) , bạn mới thấy những ngôi nhà , dù không bỏ hoang nhưng không bao giờ thấy chủ nhà.
Hỏi ra thì mới biết chủ nhà THIẾU NỢ Hụi (Tontine) hoac XHD ( Mafieux) , nên đã bỏ xứ đi đâu không ai biết. Nếu thỉnh thoảng thấy họ tài xuất hiện , thì chỉ hiểu là đã trả được nợ, hoặc vô mánh (gagner un pactole). Nhưng vô mánh bằng cách nào, thì cũng không ai biết luôn …

Không có tiền nhưng ai cũng có ăn nhậu (Faire là fete). Vietnam hiện dẫn đầu thế giới về số lượng tiêu thụ bia, và những quán nhậu. Ở bất cứ nơi nào, góc nào, xó kẹt nào bạn cũng thấy quán nhậu. Bạn nào muốn thấy lại Saigon xưa thi ở lại thành phố 3 ngày Tết, khi đó 80% dân nhập cư (ceux qui ne sont pas d’origine để Saigon) và taí định cư (ceux qui se sont installes d’un endroit a l’autre de Saigon) đều rút về quê ăn Tết, thì bạn mới có dịp thấy lại mặt tiền của những ngôi nhà khép kín và những con đường, những phố xá trầm lặng, yên bình của Saigon vào những thập niên 60-70.

Ai cũng nhậu nhung không ai trả tiền. Nối đúng ra thì cũng có người phải trả, nhưng thường thì 80% là do doanh nghiệp (businesmen) đài thọ (đây trở lại khái niệm phần trên là CHI (PAYER) , và 20% là do ngoại kiều chi trả , còn lại 10% thì một là họ Kampuchia ( tiếng mới = partager , share), còn không thì là ghi sổ (thiếu nợ ), sau đó không có tiền trả thì một là cười trừ hay là biến (disparaitre). Do đó , quán nhậu mọc lên như nấm những biến mất cũng nhanh gọn le, một phần là đó dân nhậu ăn thiếu , một phần là chi thu quá cao, cạnh tranh quá nhiều (vạn người bán , trăm người mua). Tuổi thọ ( longevite) của những quán ăn nhậu, buôn bán bình dân là khoảng vài tháng , không được tới một năm. Đó cũng là quy luật của nền kinh tế tự do (liberalisme) Easy come , easy go.
Vậy cuối cùng là bạn đã thấy rõ là tiền từ đâu mà ra. Một là từ doanh nhân (mượn đầu heo nấu cháo: vốn nước ngoài hoặc vay ngân hàng); hai là từ ngoại kiều (làm một năm xài một tháng ); ba là từ đồng lương cắc củm làm một tháng xài một ngày của hầu hết người bản xứ; nó tạo ra một thứ kinh tế xoay vòng, không sản xuất, không thuế mà và không thu nhập, mà các nhà kinh tế học gọi là Autarcie , nếu tôi không lầm ; để chỉ những nền kinh tế của những xã hội còn nặng về nông nghiệp , hoặc là còn trong quá trình xây dựng thô sơ (Societe primitive)

Bây giờ thử hình dung nếu các xứ Bắc Âu áp dụng chế đó kinh tế tự trị này thì sao ? Chắc là sẽ có đầy rẫy bất công xã hội , phân chia giai cấp , cá lớn nuốt cả bé, mạnh sống yếu chết . Giàu thì quá giàu và nghèo quá nghèo…Nhưng ngược lại , chắc là không còn những bệnh trạng tâm thần ( depression , burn out, maladie mental) loạn luân trai gái (inceste, pedophilie)- mà một phần vì thiếu những chỗ, những trò vui chơi giải trí, dù cho có bá xàm , bá láp để xả stress, (defouler,décompresser)- mua con bán cái, đẻ mướn hoặc là anh yêu anh, em yêu em, kết quả của xã hội đóng kín trong việc làm tối mày tối mặt, chỉ chuyện trò qua Mail, Internet và Facebook; không còn những hội họp gặp gỡ , giao lưu giữa những thế hệ (Cái này tôi không dám dịch ra tiếng Pháp, politiquement incorrect). Và nhất là buồn buồn, giận ai là xách xuống quét sạch, ria sạch ; không cần biết già trẻ lớn bé, đôi khi nhận danh tôn giáo hay đôi khi cũng chẳng biết nhân danh gì cả !!!

Cái thí dụ này chỉ là một hoang tưởng cá nhân của người viết (fantasmagorie personnelle) Bạn nào có bức xút, bực dọc hoac shock hàng thì cũng xin bỏ qua cho. Chỉ là chuyện vui 3 ngày Tết.

Sài Gòn 28/02/2015

Quà Tặng



Một chút tâm tình

Để người đọc có một khái niệm chung chung; và như thế có thể nắm bắt được ý tưởng của người viết; có thể tạm chia cuộc đời người viết qua 3 giai đoạn: Suy, Tàn (1975-1983); Tuyệt (cùng, vọng, 1984-1995); Thai (nghén) Dưỡng, Mộc Dục (Tắm Gội) 1996-2020. Đó cũng là vòng Trường sinh (hay Luân Hồi) trong Tử vi học. Suy Tàn thì tất cả những người ờ lại miền Nam sau 1975 đều đã hiểu. Tuyệt là khi chân ướt chân ráo nơi đất khách quê người, không tài cán, khả năng hay bằng cấp, và cách biệt ngày đêm về văn hoá và ngôn ngữ. Và Thai, Dưỡng, Mộc là đã thích nghi và hoà nhập (it hay nhiều, dù muốn hay không!). Đối với đại đa số, nhất là những người đã qua gông cùm xiềng xích hoặc đổi diện nổi chết (một lần nữa trên quê hương đã hòa bình và thống nhất) thì đâu đâu cũng là đất hứa, là thiên đàng; nhưng đối với người viết, ra đi chỉ là lưu đày, là thua cuộc, là chọn lựa bỏ chạy vì không còn chọn lựa! 8 năm làm ngày học đêm, chịu tuyết chịu mưa, lấy được cái bằng cử nhân để chen chân vào cửa lớn xã hội . Hai cuộc tình lớn gãy đổ tan hoang, vì chọn lựa và suy nghĩ khác biệt của mỗi cá nhân trong cuộc ; cuối cùng rồi tuổi 30 ngoài rớt vào văn phòng kế toán (cái nghề buồn chán nhất) ở một xó xỉn cách thủ đô Paris hơn 50 cây số ngoài; lạ hoắc và buồn tênh (Pháp có những vùng ZI, gọi là vùng kỹ nghệ, khoảng năm ba mẫu đất, tập trung một số hãng xưởng văn phòng hoặc sản xuất…Xa hơn ở vòng ngoài là khu dân cư và vùng trung tâm thương mại và nhà ga). Xe lửa vùng ngoại ô xa thời đó (1990-1995) thì khoảng 1 tiếng 1 chuyến, qua 8g chiều thì 2 tiếng. Cho nên khi tôi ra khỏi nhà thì mặt trời chưa thấy, và khi về thì mặt trời đã biến mất. Việc làm kế toán,dù chỉ ở chi nhánh nhỏ , nhưng cũng là 1 công ty tư nhân lớn nhất nước Pháp, nên cũng khòng dễ ăn. Ít khi nào được ra về trước 8g đêm, cho nên cuối cùng thì 3 năm trời chỉ là ‘một ngày như mọi ngày, bóng đổ một mình tôi’!… Rồi trong những ngày tháng đi về đó, bỗng tình cờ gặp 1 cô bé, có gương mặt và mái tóc từa tựa nàng Julia Roberts (trong phim Pretty Woman) ; vui vẻ và hồn nhiên hoạt bát. Không như đa số phụ nữ ở Paris; lạnh lùng, cô đọng và có đôi chút khinh bạc ; cô bé thoải mái bắt chuyện với tôi mỗi lúc xuống sân ga, và chia tay sau khi gần đến chỗ làm. Cô là tập sự sinh ở 1 công ty nào đó gần bên, đến học việc một tháng trước khi trở lại Fac ( tiếng tắt của Faculte = phân khoa đại học).Và rồi cũng như Trịnh đã viết: và như thế tôi đã vui từng giờ, và như thế tôi đã vui từng ngày…Tạm quên những áp lực ở cơ quan, tạm quên những đêm về mắt nhắm mắt mở để nuốt cho trôi bài vỡ của chúng chỉ cuối cùng để ôm được cái bằng Cử nhân Kinh tế cao cấp. Ngày cuối cùng chia tay sau một tháng chung lối , biết rằng đây chỉ là 1 tao ngộ qua đường, nhưng cảm khái vì đã có những buổi sáng tạm quên những nặng nề chất chứa, cho nên đặt tặng cô bé 1 bó hoa, như một lời khen ngợi, như một lời chúc mừng cho tương lai của cô ấy sau này. Sau đó 1 năm thì tôi cũng từ chức vì quá mệt mỏi và chán nản, rồi trong khi cầm bằng cấp mới để chạy chọt 1 công việc mới, thỉnh thoảng nhớ lại bóng dáng mảnh mai và tiếng cười trẻ thơ của cô bé nên trong cơn say viết càn ra đoản khúc dưới đây.


(Paris tháng 3, 2021)

Quà Tặng

Cho Véronique và Sanh)

Buổi chiều và con ga buồn trống vắng, hắn đốt điếu thuốc cuối cùng và ném chiếc bao không vào sọt rác; thở một hơi dài và nhìn quanh quất mông lung… Không mong mỏi và không kiếm tìm; đâu đó chỉ là một trầm buồn man mác và mệt nhoài thể xác..! Cô bé đã về rồi và một trang đời hắn sẽ, một lần nữa xếp lại. Cô bé đã về rồi và vĩnh viễn hắn sẽ không còn thấy lại hình tượng mà hắn thầm mong được ấp ủ vỗ về, nụ cười trẻ thơ và ngọt ngào suối tóc mà hắn mong mỏi tìm gặp sau những ngày dài nhọc nhằn cơm áo. Cô bé đã về rồi và vĩnh viễn sẽ không còn trở lại. Lòng cô vui hay buồn, rộn rã hay hoang mang hắn làm sao biết được.Món quà ngày cuối gửi cô qua tay người hàng hoa trao lại, như một gói ghém chút tình đầm ấm và ngọt ngào của dăm ba ngày chung lối, tìm lại được đâu đó những bập bùng say đắm của ngày xưa còn bé, của một thời rong chơi; tìm lại được đâu đó những ký ức, những rộn ràng của yêu mơ ngày cũ ; những ngày dài theo dấu chim non hay những đêm dài sóng vai cùng mỹ nữ; bập bùng trên tiếng hát Lê Uyên và chìm đắm trong rượu nồng ảo giác. Buổi sáng chào Thái Dương giữa phố phường vắng lặng, lùa vội chút ngày tàn bên hàng phở thân quen, gõ cửa dăm bạn bè để tìm góc nhỏ dựa lưng ; một ngày cũ đã qua và một ngày buồn mới đến. Đâu đó cũng vẫn là trống vắng, đâu đó cũng vẫn là sa mạc mông lung. Một ngày, một đời giửa thành phố mất tên có vui hay có buồn, có cười hay có khóc, một khoảng tuổi thơ trôi qua như mộng ảo, hạnh phúc có không hay chỉ là hoài niệm, quá khứ vĩnh viễn là những gì hay đẹp, hạnh phúc vĩnh viễn là những gì đã mất; trò chơi của tuế não hay phức tạp của tâm linh; vọng mơ một đời rồi cũng chỉ là đá cuội, lăn lóc một ngày, lăn lóc một thời; để nửa đời người vẫn độc hành trên những ga chiều trống vắng, đếm những cuộc tình trên tay và đo những năm tháng chồng chất.Có nặng nề rồi đó những năm tháng trên vai, có ngắn ngửi rồi đó những ngày dư còn lại; Kinh Kha ngày cũ giờ hoá thân cát bụi, Ngủ Tử Tư bạc đầu vì vận nước hay Lã Vọng ôm cần đợi vinh hoa*? Cuộc đời với những thăng trầm biển hoá, hợp tan và tan hợp, không đợi chờ, không vọng cảm. Khoảng khắc thời gian được đo bằng thiên thu vạn kiếp, nhưng khoảng khắc đời người chỉ rộn rã trăm năm; sinh ly và tử biệt cuộn tròn trong vòng quay thân mệnh, rượt bắt hư không và gói ghém kỷ niệm ; để dăm ba ngày buồn lôi ra mà yêu nhớ, để dăm ba ngày buồn nghỉ lại mà vọng mơ. Đời sống thiên thu trải dài như dòng sông quê ngoại: Cần Thơ và tiếng hò sống Hậu, bến Ninh Kiều và những cô gái làng thôn. Tại sao bỏ cuộc quay lưng, tại sao một đời trốn chạy để bây giờ vướng mắc giữa phong ba, vỗ gươm mà hát đường về gian nan!*… Ôi làm sao cô bé biết được những khoảng đời buồn tênh, đã qua và sắp đến. Có những lúc như những chiều hôm nay, lang nghe âm u ký ức dội về, ngước mặt lên tìm kiếm dấu tình xa, và giơ tay buồn đón bắt giọt mưa sa, bập bùng, réo rất trên những bến bờ vực sâu.* Hơn nửa đời rồi chưa đứt bỏ được vọng mơ, thỉnh thoảng tìm lại những bạn bè xưa cũ để rủ đời phù ảo bên những cuộc tình vẫn ngàn kiếp u mê. Lưu đày một đời và lạc lỏng một thời, có chia xẻ được gì không cùng bè bạn, cùng cô bé; những vở nát của một tâm linh rướm máu; vẫn sáng tối đi về với vần nhật nguyệt trên vai; tiều tụy như hình hài tàn tạ theo tháng năm, như bước chân cao thấp trên đường đời xuôi ngược, theo khói trời trở lại chốn mịt mùng xa vắng, để mắt lệ người tình làm choáng ngất tâm linh…Cô bé đã về rồi và hắn ngồi đây tiếc nhớ. Chưa kịp nói với cô về quê hương thần thoại, chưa kịp nói với cô về đất mẹ ngàn năm; đất nước của gươm đao và thù hận, đất nước của tan tốc và chia phôi nhưng vĩnh viễn không thể chối bỏ và quay lưng. Mặc cảm bất lực dẫn đến sự trốn chạy thực tại hay lý tưởng điên cuồng của loài trí thức dấn thân? Hay chăng thức tỉnh và sám hối muộn màng đến từ một so sánh đón đau giữa cùng kiếp người; hay bởi trái tim mù lòa và bệnh hoạn đã một lần gọt rửa được những tham vọng cuồng si và những kiêu hãnh què quặt, hay bởi đôi khi bước qua phố chợ xôn xao chợt nhớ đến thằng bạn chết tức tuổi nơi quê hương, không một lời trăn trối, không một tiếng thở than. Chết trong nghèo đói và tuyệt vọng, đi tìm cái chết như một thứ thiêu thân tìm ánh lửa, đốt cháy cuộc đời bằng rượu cay va thuốc đắng. Ngày được tin buồn không nói được một câu, không khóc được một lần. Đầu óc đặt sệt và chai cứng như một thứ điện toán vô tâm, ăn ngủ quay cuồng và miệt mài hùng hục như loài trâu ngựa để đánh đổi chủt tiện nghi phù ảo và chút hạnh phúc nhọc nhằn!… Đôi khi muốn nôn mửa lên bất lực của chính bản thân bởi chút hạnh phúc mong manh đó cũng không chia sẻ cho anh em bè bạn ; chút tiện nghi phù phiếm đó cũng không chia sót được cho quê hương đồng loại; kéo lê tháng ngày đi hoang với sám hối trên vai và những đêm dài mông ảo, mơ ước ngày về như thứ quà thần thánh…! Để rồi một sáng mỏt chiều tiếng cười thủy tinh của cô bé đã phá vỡ chút nhọc nhằn ngây ngô; ngỡ rằng đêm dài một đời sẽ thôi là vĩnh cửu, ngỡ rằng buổi sáng trở mình đời thôi là quán trọ; nhưng cách xa quá khoảng cách hai cuộc đời, nhưng còn đâu đó những bất đồng tâm linh. Kẻ quay lưng trốn chạy và cô bé tuổi vào đời vất vả với phiền toái áo cơm; chia sẻ được gì hay chỉ là vỗ về từng câu nói; và cuộc hội ngộ ngắn ngửi cũng như những chuyến tàu xuôi ngược sân ga, đến rồi đi, tan rồi hợp!. .. Để mai nầy khi tuổi thơ xếp lại, hạnh phúc nắm bắt và cuộc đời trên vai; thoáng về đâu đó trong hoài niệm mông lung, chút thanh thoảng hương hoa của một chiêu vàng xa vắng, và hình tượng mịt mùng của một lãng tử qua đường, kỳ quặc…!

Ngoại ô Paris tháng 12, 1994

1/ Lấy tích từ những nhân vật trong Đông châu Liệt Quốc
3/ Lấy ý từ Cát Bụi Tình Xa, Một ngày như mọi ngày, Đêm thấy ta là thác đổ(Trịnh Công Sơn)…
2/ Lấy ý từ Hành lộ Nan kỳ , thơ Lý Bạch

PS :Vào thời điểm của bài viết này , thì đã có chánh sách đổi mới. Người viết cũng có nghe một vài người bạn (đi từ 1975) đã trở về vì còn mẹ già hoặc tình cảm gia đình quyến luyến. Nhưng bản thân người viết thì chưa và không có ý định trở về vào lúc đó!!!

Thơ con cốc

Nhập: 13 tuổi giận gia đình xách gói qua ở trọ nhà dì (chị ruột của mẹ). Bà dì có 9 anh chị em. Bà chị cả giáo sư Gia Long, bà kế thì dân Trưng Vương, một ông anh lính kiển thì mê kiếm hiệp, còn dượng (bác sĩ) thì lại thích Tử vi và sấm Trạng Trình. Một nhà sách vở, từ Tứ Thư Ngủ Kinh cho đến Võ lâm Thập Bát; từ Tây Du Hán Sở cho đến Tintin Spirou: Tống Văn Bình (Z28) và Ian Flyming (007), Tử vi Thần Toán, Thần thoại Hy Lạp và Cố tích Anderson. Chưa kể sử sách, giáo khoa thư và thi văn tuyển tập: thơ Đường, thơ mới, thơ xưa,lại thêm Trống Mái Đôi Bạn Số đỏ… Gặp thứ một sách như tôi (thời đó) thì đúng là chuột sa hủ nếp. Thời đó học chỉ một buổi, thêm 3 tháng hè đăng đẳng, thế là thời gian bao la cứ tha hồ ngấu nghiến các tủ sách của anh chị và dượng. Có những sách được đọc công khai; có những sãch phải lén lút chờ anh chị và dượng đi làm mới len lén mở ra thanh toán. Coi như trong suốt bốn năm đến ngày tháng tư năm ấy (1975), tôi đã may mắn nuốt trọn được không ít thơ văn và sử sách. Nói may mắn vi sẽ có một thời sách vở muốn tìm cũng không có, muốn đọc cũng không xong. Dù có thời gian sau này thì cũng phải đối đầu với cơm áo gạo tiền và một số gượng ép và ràng buộc của thời cuộc! Bây giờ nhớ lại thì mê lắm thuở ấy những Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Trọng Lư. Không thể quên Đổ Phủ và Nhị Bạch (họ Lý và họ Bạch, dù không hiểu được nhiều cho lắm). Và sau cùng là những Nguyên Sa, Tất nhiên, Luân Hoán. Tuổi 13, 14, ai đã không có thời làm thơ (dù là thơ con cóc) yêu em. Cô bé tóc bum bê (và như búp bê) năm đầu vào lớp 6; năm sau thì một người cháu bà con xa của dượng từ Đà lạt xuống chơi vài tuần (phải thấy gái Đà lạt mới hiểu thế nào là má hồng rám nắng hây hây). Nhưng rồi quọt quẹt được vài câu vài chữ rồi thôi, rồi quên. Chỉ là tình con nít, puppy love như người ta nói. Cuối cùng thì mê thơ, thích thơ, đọc thơ; yêu mê cũng nhiều nhưng đến giờ chỉ vỏn vẹn có được 4 bài thơ vừa ý và giữ lại, nay đăng lên để đóng góp vào Tạp Bút này. Vì muốn giữ lại nguyên bản khi đăng trên một báo Hội đoàn lúc đó, nên tôi đã scan và upload lên đây. Để giữ lại chút kỷ niệm của một thời yêu mơ và mộng ảo vá trời!!! (Ngoại ô Paris 31/05/2021)

HỐ THẲM (Bản nháp tìm thấy khi soạn lại giấy tờ. Tháng 11/2021)

Cho Trâm và những cuộc tình không lối thoát

Có ngày âu lo với chập chùng hố thẩm
Có đời tuyệt vọng mit mừng chia xa
Có ta vòng quanh với ngậm ngùi thương nhớ
Có khối hôn hoàng với đất trời bảo là

Có em ngày xưa với má hồng ngây ngất
Có tóc tơ trời vẫn cuộn đời trong tà
Có ta rồi đấy về trăm năm đá sỏi
Nhớ thoáng chiều vắng hát vọng đến trường sa

Có mưa sầu đông chùng trên cây nỗi nhớ
Có vẻ mặt trời một suốt kiếp cuồng yêu

Có trăm ngày vui rồi em xưa cũng mất
Có vạn ngày buồn chất chứa nỗi cô liêu

Có em ngày xưa thương ta đời trẻ nhỏ
Có em bây giờ ra phố ngõ xôn xao
Bỏ ta ngồi đây sầu lên hồn biên tái
Vẽ khói lăng trầm cuộn tròn bóng hư vô

Có mưa ngày nao vòng tay ôm đan nhớ
Đắm đuối tình hồng rồi bỗng chợt chia phôi
Nên vạn ngày vui rồi vẫn đời bão nỗi
Nên trăm cuộc tình rồi vẫn ngày quạnh hiu

Có qua ngàn năm biết đâu là cõi thật
Quán trọ một đời vẫn cứ mãi chôn chân
Có ta rồi thôi vẫn một đời khăn gói 

Ngủ tạm bên đời hạnh phúc của tình nhân

Paris 30/01/2002